"Cổ tích" của người Mông

Thứ Hai, ngày 10/01/2011 03:55 AM (GMT+7)

Bao đời nay, người Mông đều trồng lanh, dệt vải, tự may trang phục cho mình bởi quan niệm “chỉ có mặc vải lanh mới không lạc tổ tiên”.

Tin Tức, Tin HOT trong ngày được cập nhật liên tục từng giờ tại Tin Tức Trong Ngày

Bao đời nay, người Mông đều trồng lanh, dệt vải, tự may trang phục cho mình bởi quan niệm “chỉ có mặc vải lanh mới không lạc tổ tiên”. Bây giờ, tiếng tăm của thổ cẩm Mông đã vượt qua những đỉnh núi chót vót, tìm đến tận những nước Âu, Mỹ và trở thành một món handmade (hàng hóa thủ công) được nhiều người ưa thích…
 
Nhận diện qua trang phục

Trong một chuyến công tác tới vùng cao nguyên đá Quản Bạ (Hà Giang), bên bếp lửa bập bùng, tôi vô tình được nghe lời dặn dò của bà chủ nhà với cô cháu nội đang độ trăng tròn. Rót chén rượu ngô thơm nưng nức được hâm nóng từ chiếc nồi sờn cũ đưa khách, bà kể, người phụ nữ Mông khi sống phải làm được những chiếc váy để mặc hàng ngày, xuống chợ hay tham gia lễ hội.
 
Trước khi chết, họ cũng phải tự tay chuẩn bị váy áo truyền thống thật đẹp để tổ tiên có thể nhận ra con cháu để che chở, đùm bọc. Rồi bà dặn, một phụ nữ có khéo léo hay không, có chăm chỉ hay không thì chỉ cần nhìn vào bộ trang phục mặc trên người, nhìn vào đường kim mũi chỉ là biết được phẩm hạnh cũng như tính nết người làm ra bộ trang phục đó...
 
Trước sự tò mò của người khách lạ, người phụ nữ có tên Vàng Thị Chờ ấy đưa que than củi, vạch xuống nền đất, chỉ đường cho tôi tìm tới Hợp tác xã dệt lanh Hợp Tiến (xã Lùng Tám, Quản Bạ) rồi bảo: “Đấy mới là nơi để nhà báo tìm hiểu về truyền thống dệt lanh của người Mông quanh năm sống ở đỉnh núi, lưng đèo”.
 
Tinh mơ hôm sau, tạm biệt người chủ nhà tốt bụng, tôi vội bắt xe ôm, xuyên qua màn sương trắng trời, vượt nhiều khúc cua tay áo mà đến kẻ ngồi sau cũng... sởn tóc gáy để “ngược” lên Lùng Tám. “Đại bản doanh” của HTX dệt lanh hiện ra là một ngôi nhà nhỏ với mấy chiếc khung cửi đang xoành xoạch hoạt động. Cạnh đó là một gian nhà trưng bày các mặt hàng thổ cẩm đã được hoàn thiện với muôn dáng vạn màu, vô cùng sặc sỡ giữa tiết trời mùa đông u ám và màu xám ngoét của những dãy núi đá tai mèo.
 
Đang mải “phiêu” theo những nếp hoa văn độc đáo, nhớ lại lời người đàn bà Mông nọ dặn dò cháu mình, tôi chợt giật mình bởi sự xuất hiện của một phụ nữ bên cạnh lúc nào không hay. Chị tên là Vàng Thị Mai, Chủ nhiệm HTX dệt lanh Hợp Tiến. Khi biết khách không tìm đến để mua hàng, người phụ nữ Mông vừa bước qua tuổi 50 này vừa tước những sợi lanh quấn quanh người, vừa nhỏ nhẹ kể về nghề dệt của dân tộc mình.
 
Chị kể, ngoài việc đáp ứng nhu cầu mặc thì mục đích sâu xa của trang phục cũng để phân biệt các chi, nhóm khác nhau trong tộc người Mông. Một bộ trang phục cổ truyền của phụ nữ gồm váy hình nón cụt, xếp nếp, phần mông bó chặt, phần thân váy xòe rộng. Áo có cổ lật ra phía sau gáy. Thắt lưng buông hai dải dài phía sau. Tấm vải che đằng trước váy. Vuông vải che ở phía mông. Khăn quấn đầu. Xà cạp và tấm áo khoác ngoài không có tay, có cổ lật ra phía sau gáy.
 
Trang phục của phụ nữ Mông Trắng thường làm bằng vải lanh trắng và áo thường xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm sau lưng. Phụ nữ Mông Hoa thì áo lại xẻ nách, trên vai và ngực có nẹp thêm các đường vải màu, chỉ màu. Phụ nữ Mông Đen cũng mặc váy áo như phụ nữ Mông Trắng và Mông Hoa nhưng ngắn hơn, áo của họ cũng mở ngực và thêu hoa... Còn trang phục của nam giới Mông thì thống nhất hơn với mũ bằng vải lanh hình quả dưa, gồm 8 miếng khâu ghép lại với nhau. Áo trong xẻ nách ngắn, áo khoác ngoài dài, cổ áo thêu hoa văn móc câu, quần ống rộng, đũng rất thấp...

Cõng đất lên núi trồng lanh

"Cổ tích" của người Mông - 1

Trong lúc xuống chợ, người Mông vẫn tranh thủ tước lanh

Trang phục đẹp là vậy, nhưng thực tế, váy áo lùm xùm cũng không thực sự thoải mái khi leo núi, lên nương. Cộng với sự lai tạp văn hóa vùng miền, người Mông cũng dần thay đổi cách ăn mặc. Phụ nữ vẫn mặc váy, nhưng “phần trên” lại “nhường chỗ” cho các trang phục giống người Kinh...
 
Những chiếc váy áo cũng bị cất trong tủ, chỉ đến dịp lễ, Tết hay trảy hội mùa xuân, người ta mới đem ra diện. Cũng bởi thế, những vùng đất trồng cây lanh – vốn là nguyên liệu để dệt thổ cẩm cho những cô gái mới lớn, cũng bị thu hẹp dần, nhường vào đó là những nương ngô, cỏ voi để nuôi bò, phục vụ cuộc sống. Nhiều khung cửi bị bỏ không, cối, chày giã lanh vứt chỏng chơ ngoài ngõ. Người ta cho rằng, thiếu mặc thì có thể dùng đồ của người Kinh, còn thiếu ăn mới là nỗi lo sát sườn cần tính tới.
 
Nói đến đó, chị Mai đưa mắt nhìn ra đỉnh núi Lùng Tám chót vót trước nhà, nhớ lại cái ngày đi vận động từng nhà trồng lanh, dệt vải. Ấy là chuyện vào những năm 1998, khi anh Sùng Mí Quả, chồng chị còn công tác tại UBND xã. Nhận thấy xu hướng của xã hội ngày một yêu thích những mặt hàng thủ công, truyền thống, anh Quả đã bàn với vợ, tìm cách khôi phục lại nghề dệt lanh truyền thống đã có ở Lùng Tám tự bao đời.
 
Vạn sự khởi đầu nan, chị Mai vận động mãi mới được hơn mười chị em tham gia tổ dệt vải. Đất trồng lanh không có bởi các cụ già nhất định không chịu “mạo hiểm” với miếng cơm manh áo của mình. Do đó, các chị đã phải cõng những gùi đất nặng trĩu, leo lên hốc đá nhọn hoắt để bỏ đất, trồng lanh lấy nguyên liệu.
 
Trời không phụ công người, cuối cùng những sản phẩm họ làm ra đã được anh Sùng Mí Quả đem đi tiếp thị và được đông đảo khách du lịch quan tâm. Bán được hàng, cả nhóm đều bất ngờ bởi tính tổng thu nhập từ nghề dệt cao gấp 3-4 lần so với trồng ngô, cỏ voi. Thành công này cũng đã giúp nhiều người già trong bản thay đổi quan niệm, nhiều chị em khéo tay lần lượt xin gia nhập tổ hợp dệt vải để kiếm thêm thu nhập trong những lúc nông nhàn.
 
Theo chị Mai, cây lanh trồng hơn 2 tháng đã có thể cho thu hoạch. Người ta cắt về, phơi tái rồi khéo léo tách lấy vỏ lanh khỏi thân, đưa vỏ lanh vào cối giã cho mềm, tước nhỏ, bện chặt thành dây dài. Sau đó, sợi lanh lại được đưa vào lăn lên khúc gỗ tròn, dùng phiến đá phẳng chà lên để làm mềm và bong hết bột chỉ, còn trơ lại sợi dai rồi mới cuộn thành những con sợi lớn.
 
Tiếp theo là công đoạn đưa lanh vào luộc qua nước tro bếp vài lần và một lần luộc bằng nước sáp ong để tẩy trắng và làm mềm sợi rồi dệt bằng khung cửi. Tấm vải dệt xong sẽ được giặt nhiều lần cho thật trắng. Vải đẹp là vải nhẵn, sợi đều, trắng, nhỏ... khi mặc luôn tạo cảm giác mềm mại. Để tạo ra một tấm thổ cẩm nhiều màu sắc, phải trải qua công đoạn nhuộm, đòi hỏi tính kiên nhẫn khi phải thao tác nhiều lần. Thuốc nhuộm cũng được người Mông sử dụng bằng hợp chất từ cây cỏ tự nhiên như cây ăn trầu, cây củ nghệ, lá cơm xôi, cỏ phạy...
 
Cổ tích nơi ải Bắc
 
Tiếng lành vang xa, những sản phẩm từ thổ cẩm Mông của tổ hợp dệt lanh của vợ chồng anh Quả, chị Mai đã được nhiều người biết tới. Du khách trong và ngoài nước, khi đặt chân đến mảnh đất địa đầu Hà Giang đều lựa cho mình những sản phẩm thổ cẩm về làm quà tặng. Và thế là, tháng 8/2001, HTX dệt lanh Hợp Tiến chính thức được thành lập. Để có vốn làm ăn, anh Quả đã vay Ngân hàng Chính sách xã hội 200 triệu đồng.
 
Có tiền, anh Quả đầu tư cho sản xuất, quảng bá thương hiệu. Với sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng, vợ chồng anh Quả đã đem sản phẩm dệt may thủ công của mình đi nhiều hội thảo, hội chợ tìm kiếm bạn hàng. Hiện nay, Tổ chức Craft Link (thông qua Trung tâm Nghiên cứu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam) là bạn hàng lớn nhất của HTX dệt lanh Hợp Tiến. Đây cũng là đơn vị đảm nhận việc giới thiệu, quảng bá sản phẩm dệt lanh của người Mông cho các đoàn khách du lịch quốc tế, có trụ sở ở 43 Văn Miếu, Hà Nội. Năm 2007, HTX đã trả được món nợ 200 triệu đồng vay ngân hàng và yên tâm sản xuất.
 
Cuối năm 2010, chị Vàng Thị Mai còn được mời đi tham dự một hội thảo tại Pháp để quảng bá cho thổ cẩm Mông. Trước đó, đầu năm 2009, nhà thiết kế Anh Vũ của Việt Nam đã mang 10 mẫu thời trang với cảm hứng từ thổ cẩm Mông sang Nhật Bản tham gia sàn diễn thời trang “Bộ sưu tập” của các nhà thiết kế châu Á và được đông đảo công chúng đón nhận. Thế mới biết, nét độc đáo, quyến rũ của hoa văn, họa tiết trang phục thổ cẩm Mông có sức chinh phục lớn thế nào.
 
Có lẽ cũng nhờ thế, đến nay, gần 30 mặt hàng từ thổ cẩm Mông của HTX dệt lanh Hợp Tiến đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Một số đơn vị nước ngoài đã thông qua Craft Link để đặt hàng, mang về nước bày bán. Để đảm bảo kịp tiến độ giao hàng, những lúc ấy, HTX phải huy động hàng trăm người thợ lành nghề, với mức lương 50.000 đồng/ngày – mức thu nhập “mơ ước” của rất nhiều bà con ở miền đá xám. Chia tay khách, anh Quả, chị Mai phấn khởi “khoe”, chưa tính doanh thu của tháng 12 thì trong năm 2010 HTX đã thu về được 480 triệu đồng.
 
Anh xe ôm lại đưa tôi rời Lùng Tám khi sương chiều bắt đầu bủa vây những mái nhà lúp xúp. Chợt nhớ tới lời một người thợ của HTX: “Giờ thì người Mông không chỉ dệt cho người Mông, mà còn làm ra sản phẩm đem bán cho thiên hạ, lấy tiền mua thóc gạo để no cái bụng”.
 
Câu nói làm tôi không khỏi chạnh lòng, bởi lâu nay, ở vùng cao nguyên đá Hà Giang, hạt thóc cho bà con luôn là một điều khó khăn khi điều kiện canh tác vô cùng thiếu thốn. Nhiều nơi, người Mông phải ăn mèn mén qua ngày. Bởi thế, có lẽ mô hình HTX hàng thủ công như Hợp Tiến sẽ là đòn bẩy để phát triển kinh tế nơi ải Bắc xa xôi...

24H.COM.VN (Theo Gia đình.net)
  Video chọn lọc
Xem thêm chủ đề: thuong hieu, tin tuc 24h
Thông tin cần biết
Sự kiện tiêu điểm
Về trang chủ 24hVề đầu trang
TIN TUC TRONG NGAY, TIN NHANH, TIN TUC VIET NAMIPHONE 6, GIA IPHONE 6 VIET NAMU19 VIET NAM, LICH THI DAU U19 VIET NAM, TIN TUC, TIN TUC 24H, BONG DA, THE THAO, TIN MOI, THOI TRANG, LAM DEP, AN NINH HINH SU, HAI HOAI LINH, SAO VIET, THE VOICE KID 2014, LICH THI DAU NGOAI HANG ANH 2014, BONG DACHUNG KET GIONG HAT VIET NHI 2014, THIEN NHAN GIONG HAT VIET NHI, NGUOI MAU
X
CNT2T3T4T5T6T7