|
|
Khai thác cá ngừ đại dương. Xuất khẩu cá ngừ sẽ tăng trưởngThứ Sáu, 10/02/2012, 01:43 PM (GMT+7)
Chiếm 6,3% trong cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu và rộng hơn trên thị trường thế giới thì cá ngừ Việt Nam vẫn còn những khó khăn cần phải vượt qua, nhất là năm nay. Những bước tiến khả quan Trong những năm gần đây, Việt Nam được xem là một trong những nước mới nổi về xuất khẩu cá ngừ. Dù nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn trong năm 2011, nhưng giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam vẫn hơn 379 triệu đô la, tăng 29,4% so với năm ngoái. Các loài cá ngừ xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vây dài, cá ngừ vây xanh miền Nam và cá ngừ sọc dưa... Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong năm 2011, cá ngừ Việt Nam đã xâm nhập và mở rộng ra nhiều thị trường, nâng tổng số thị trường nhập khẩu cá ngừ của Việt Nam lên con số 87. Ba thị trường chính của xuất khẩu cá ngừ Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật Bản. Trong đó, Mỹ vẫn là thị trường chính với giá trị xuất khẩu đạt 171,37 triệu đô la, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2010, đứng thứ hai là EU. Cho đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu cá ngừ sang 21 nước trong khối EU, trong đó Đức, Italy và Bỉ là ba thị trường nhập khẩu nhiều nhất. Có thể thấy, cá ngừ Việt Nam đã có được một vị trí khá vững chắc tại thị trường EU khó tính. Ngành cá ngừ Việt Nam cũng đã có những bước tiến mới đáng ghi nhận trong một vài năm qua. Sự ra đời của Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam với 36 thành viên vào năm 2010 không chỉ là nơi tập hợp, đoàn kết hội viên, phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất mà còn là yếu tố quan trọng để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm cá ngừ Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đồng thời trong năm 2011, một số doanh nghiệp tại các tỉnh trọng điểm khai thác cá ngừ như Phú Yên, đã có sự liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc thu mua, chế biến và xuất khẩu cá ngừ đại dương nhằm khẳng định và nâng cao thương hiệu cá ngừ Việt Nam.
Khai thác cá ngừ đại dương Lắm rào cản ở trong nước lẫn nước ngoài Trong thời gian gần đây, sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ở các tỉnh quan trọng như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định đã có sự gia tăng đáng kể. Cụ thể, từ đầu năm 2011 đến nay, Phú Yên đã khai thác hơn 5.200 tấn cá ngừ đại dương. Khoảng 24 - 30% sản lượng được xuất khẩu sang các nước Âu, Mỹ và Đông Bắc Á, mang về kim ngạch trên 10 triệu đô la/năm. Còn tại Bình Định, từ ngày 23 – 30/1/2012, đã có 45 tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân cập bến, sản lượng đạt 70 tấn. Bình quân mỗi chiếc đánh bắt được 1,4 tấn, lãi từ 40 - 80 triệu đồng/tàu... Tuy nhiên, cá ngừ đại dương là đối tượng chịu sự chi phối, điều chỉnh của Hiệp định về đàn cá di cư quốc tế, nằm trong Công ước về Luật Biển quốc tế. Khi cá di cư đến vùng biển Việt Nam, việc đánh bắt sẽ chịu sự điều chỉnh của Ủy ban Nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC). Hiện, tất cả các vùng biển khai thác cá ngừ đã được các tổ chức quốc tế quản lý chặt chẽ, trong khi nước ta chỉ mới là thành viên không chính thức nhưng có hợp tác của WCPFC. Việt Nam chỉ có thể trao đổi thông tin, tham dự các cuộc họp của WCPFC, yêu cầu họ cung cấp thông tin nghề cá nhưng không được quyền đưa tàu ra vùng biển quốc tế đánh bắt hải sản. Do vậy, ngư dân và các doanh nghiệp Việt Nam đã, đang và sẽ vấp phải rào cản về đánh bắt và xuất khẩu sản phẩm đến một số thị trường quốc tế. Vì vậy, việc sớm trở thành thành viên đầy đủ của WCPFC, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương hiệu cá ngừ đại dương của các tỉnh là điều rất cần thiết trong thời gian sắp tới. Do kỹ thuật bảo quản sau khai thác phần lớn còn thô sơ nên phần lớn các nguồn nguyên liệu cá ngừ đạt tiêu chuẩn không đủ để đáp ứng cho nhu cầu chế biến của doanh nghiệp. Vì vậy, buộc các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu để giảm áp lực về nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, thủ tục nhập khẩu nguyên liệu quá phức tạp và rắc rối. Các doanh nghiệp phải hoàn tất nhiều thủ tục và giấy tờ để gửi tới các cơ quan chức năng. Trái lại, hiện nay một số nước xuất khẩu cá ngừ lớn trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan và Philippines lại đang được chính phủ của họ tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu nhằm giảm sức ép cho nguồn nguyên liệu nội địa. Điều này đã làm cho nhiều nhà cung cấp chuyển sang hợp tác với các nhà nhập khẩu Thái Lan và Philippines. Do đó, nếu ngành cá ngừ Việt Nam muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới thì việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá ngừ Việt Nam là điều cần thiết nhất hiện nay. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng hệ thống kho lạnh để bảo quản nguồn nguyên liệu sau khai thác, việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nước ngoài, tìm kiếm thêm thị trường và tăng cường công tác truyền thông để quảng bá sản phẩm cá ngừ Việt Nam một cách rộng rãi... cũng là điều đáng được quan tâm nếu ngành cá ngừ Việt Nam muốn vươn mình ra biển lớn.
Theo Sao Mai (Thời báo kinh tế Sài Gòn Online)
Tin cùng mục Thị trường - Tiêu dùng
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
Tin nổi bật mục Thị trường - Tiêu dùng |
|
| X | ||||||
| CN | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 |